Thế giới  
Các nền văn minh
Tôn giáo
Triết học
Các nước trên thế giới
1USD = 20,845.00 VND
Giá vàng trong nước
10c = 46.420.000 VND
Giá vàng thế giới
1c = 4,162,037 VND
Nhân vật lịch sử
Địa diểm du lịch
Địa điểm ăn uống
Khách sạn
Điểm đặt máy ATM
Sổ tay nội trợ
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
 
Tên đầy đủ

 

tiếng địa phương

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

tiếng Anh

Socialist Republic of Vietnam

 
Tên viết tắt

 

tiếng địa phương

Việt Nam

tiếng Anh

Vietnam

 
Nhóm sắc tộc

Kinh (Việt) 86.2%, Tày 1.9%, Thái 1.7%, Mường 1.5%, Khơme 1.4%, Hoa 1.1%, Nùng 1.1%, H'mông 1%, khác 4.1% (1999)

 
Tôn giáo

Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, Tin lành, Hồi giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng bản địa,…

 
Ngôn ngữ

Việt (chính thức), Hoa, Anh, Pháp, Khơme…

 
Thủ đô

Hà Nội

 
Múi giờ

 

so với giờ quốc tế (UTC)

UTC+7

so với giờ Hà Nội(GHN)

GHN+0

 
Ngày Độc lập

2-9-1945 (từ Pháp)

 
Ngày lễ

Ngày Độc lập, 2-9 (1945)

 

Quốc kỳ

Bản đồ
 
 
Địa lí
 

Quốc gia ở Đông Nam Á, Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, Tây giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia, Đông và Nam giáp biển Đông.

Lãnh thổ Việt nam trải dài từ Bắc đến Nam trên 1.700 km, với khoảng 3.000 km bờ biển. Hình thể tương đối đặc biệt: hai đầu phình ra, ở giữa thu hẹp lại và kéo dài. Địa thế ở Bắc bộ tương đối phức tạp, rừng núi trải dài suốt từ biên giới Việt-Trung cho đến Tây Bắc Thanh hóa và bao quanh vùng đồng bằng sông Hồng. Địa thế Trung bộ gồm dải đồng bằng hẹp ven biển Đông và dãy Trường sơn ở phía Tây tiếp nối với vùng đất đỏ Tây nguyên. Ở phía Nam, sông Mêkong bắt nguồn từ Tây tạng, chảy qua hai nước Lào và Campuchia, chuyển dần phù sa về tạo nên đồng bằng Nam bộ.

Các sông chính Sông Hồng (khoảng 1.183 km; đoạn chảy qua Việt nam dài khoảng 650km), sông Mêkong (4.200 km; đoạn chảy qua Việt nam dài khoảng 250 km).

Tài nguyên thiên nhiên Phosphat, than đá, sắt, bô-xít, mangan, crôm, các mỏ dầu và khí đốt ở ngoài khơi, lâm sản, hải sản, thủy điện.

Khí hậu Việt nam nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng khí hậu lại có những đặc điểm tùy theo vùng, tùy theo độ cao so với mặt biển và vĩ độ: miền Bắc chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam nên có bốn mùa rõ rệt; miền Nam (từ đèo Hải vân trở vào) ít chịu ảnh hưởng của gió mùa nên chỉ có hai mùa phân biệt: mùa khô (tháng 11 đến tháng 4) và mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10).

Môi trường Nạn phá rừng, lũ lụt thường xảy ra, đất bạc màu. Ô nhiễm nước và đánh bắt cá quá mức đang đe doạ nguồn lợi hải sản. Ô nhiễm không khí và các nguồn nước ở các đô thị.

 
Diện tích

 

tổng

329,560.00 km²

đất

325,360.00 km²

nước

4,200.00 km²

 
Biên giới đất liền

4,639.00 km

 
Các nước lân cận

Campuchia 1,228 km, Trung Quốc 1,281 km, Lào 2,130 km

 
Bờ biển

3,444.00 km

 
Đỉnh cao nhất

Fan Si Pan, 3143 m

 
Sử dụng đất (2005)

 

cây ngắn ngày

20.14%

cây dài ngày

6.93%

còn lại

72.93%

 
Diện tích đất có thủy lợi (2003)

30,000.00 km²

 
 
Chất lượng dân số, văn hóa - xã hội
 

Giáo dục Đến năm 2000, 100% số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; 97% số huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh; 97,7% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về xóa nạn mù chữ và phổ cập tiểu học.

Y tế Các chương trình chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng được Nhà nước hết sức chú trọng: công tác dân số (kế hoạch hóa gia đình, điều động và phân phối dân cư. ..), chương trình tiêm chủng vắcxin và cho uống vitamin A ở trẻ em, chiến dịch vận động toàn dân sử dụng muối iốt và các phong trào phòng chống ma túy, mại dâm, bệnh AIDS... Công tác đào tạo cán bộ y tế đã được quan tâm và mở rộng ở các tỉnh thành. Hiện nay, mỗi tỉnh điều có từ một đến hai bệnh viện đa khoa. Phương pháp điều trị theo Đông y cổ truyền (kết hợp Tây y) được khuyến khích phát triển. Chính phủ Việt nam, với sự tài trợ của các tổ chức từ thiện, nhân đạo quốc tế, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đang cố gắng giúp đỡ những người tàn tật, đặc biệt là trẻ em khuyết tật, nạn nhân chất độc màu da cam.

Danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ long, Bích động, động Phong Nha, Hồ Ba bể, Hồ Gươm, Sa pa, Đà lạt, Tam đảo, quần thể cố đô Huế, nhiều đền, chùa nổi tiếng...

 
Dân số (2007)

85,262,356 người

 
Mật độ dân cư (2007)

258.72 người/km²

 
Cấu trúc tuổi dân số (2007)

 

0 - 14

26.27%

15 - 64

67.93%

> 65

5.80%

 
Tuổi trung bình (2007)

 

toàn dân

26.40 tuổi

nam

25.30 tuổi

nữ

27.60 tuổi

 
Tăng trưởng dân số (2007)

1.00%

 
Tỉ lệ sinh (2007)

16.63 ‰

 
Tỉ lệ chết (2007)

6.19 ‰

 
Chênh lệch giữa người nước ngoài đến sống và người trong nước ra sống ở nước ngoài (2007)

-0.40 ‰

 
Tỉ lệ giới tính nam/nữ (2007)

 

lúc sinh

1.07

tuổi < 14

1.08

tuổi 15 - 64

0.98

tuổi > 65

0.63

toàn dân

0.98

 
Tỉ lệ trẻ tử vong lúc sinh (2007)

 

toàn bộ

24.37 ‰

nam

24.76 ‰

nữ

23.94 ‰

 
Bình quân số trẻ do 1 phụ nữ sinh ra (2007)

1.89 trẻ

 
Tuổi thọ trung bình (2007)

 

toàn dân

71.07 tuổi

nam

68.27 tuổi

nữ

74.08 tuổi

 
Tỉ lệ mắc HIV/AIDS độ tuổi 15-49 (2003)

0.40%

 
Số người nhiễm HIV/AIDS (2003)

220,000 người

 
Số người chết HIV/AIDS (2003)

9,000 người

 
Tỉ lệ biết đọc và viết trên 15 tuổi (2002)

 

toàn dân

90.30%

nam

93.90%

nữ

86.90%

 
 
Kinh Tế
 

Sau 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-75), kinh tế Việt nam hầu như kiệt quệ. Đất nước vừa thống nhất, lại phải đối phó với những xung đột biên giới và đã có những sai lầm trong phát triển kinh tế. Trong những năm 1980-85, sản xuất đình đốn, lạm phát tăng nhanh, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Trước tình trạng đó, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt nam (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, thay thế nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp bằng nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, dưới sự quản lí của Nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cùng với việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài vào Việt nam (1987), việc bãi bỏ cấm vận của Mĩ (1994), sự hình thành các khu vực công nghiệp, các khu chế xuất tại các thành phố lớn trong nước, sự kiện Việt nam gia nhập Hiệp hội các nước Đông nam Á (ASEAN) năm 1995 đã là những cơ hội cho Việt nam hòa nhập vào nhịp độ phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới.

Sau 18 năm cải cách kinh tế, Việt nam đã đạt được những tiến bộ và thành công đáng kể. Tổng số đầu tư cơ bản trong toàn xã hội chiếm 11,2% tổng sản lượng quốc nội (GDP) năm 1990; chiếm 28% năm 2000. Đầu tư của nước ngoài đạt 15 tỉ USD trong 10 năm, chiếm 25% tổng số đầu tư của cả nước. Mức tăng trưởng GDP hàng năm từ năm 1995 đến năm 1999 là 6,7%, GDP năm 1999 gấp đôi so với năm 1990. Đời sống vật chất của nhân dân đã được nâng cao.

Cơ cấu kinh tế Kinh tế nông công nghiệp đang phát triển.

Sản phẩm công nghiệp Than đá, dầu thô, thép, xi măng, thủy tinh, vỏ xe, giấy, máy móc, phân bón hóa học, giày dép, hàng may mặc và thực phẩm. .

Sản phẩm nông nghiệp Gạo, ngô, khoai, cao su, cà phê, chè, mía, dừa, đậu nành, lạc, chuối, lợn, cá.

 
GDP - PPP (2006)

tổng sản phẩm quốc nội theo sức mua

tổng giá trị

262,800,000,000 USD

bình quân đầu người

3,082 USD/người

 
GDP - OER (2006)

tổng sản phẩm quốc nội theo tỉ giá hối đoái chính thức

tổng giá trị

48,430,000,000 USD

bình quân đầu người

568 USD/người

 
Tăng trưởng kinh tế (2006)

8.20%

 
Tăng trưởng công nghiệp (2006)

11.30%

 
Cấu thành GDP của nền kinh tế (2006)

 

nông nghiệp

20.10%

công nghiệp

41.80%

dịch vụ

38.10%

 
Lực lượng lao động (2006)

44,580,000 người

 
Cơ cấu của lực lượng lao động

 

nông nghiệp

56.80%

công nghiệp

37.00%

dịch vụ

6.20%

 
Tỉ lệ thất nghiệp (2006)

2.00%

 
Tỉ lệ hộ nghèo (2004)

19.50%

 
Lạm phát (2006)

7.50%

 
Đầu tư (2006)

 

tổng

15,788,180,000 USD

% GDP

32.60%

 
Ngân sách (2006)

15,420,000,000 USD

 
Dự trữ ngoại tệ và vàng (2006)

11,920,000,000 USD

 
Cán cân vãng lai (2006)

chênh lệch giá trị giao dịch của hàng hóa và dịch vụ giữa người cư trú ngoài nước (cho người cư trú trong nước) với người cư trú trong nước (cho người cư trú nước ngoài)

tổng

1,029,000,000 USD

 
Nợ quốc gia (2006)

tổng các khoản nợ chưa trả (gốc và lãi) của chính phủ (từ trung ương đến địa phương) vay trong nước và nước ngoài

tổng

23,004,250,000 USD

% GDP

47.50%

 
Nợ nước ngoài (2006)

tổng các khoản nợ mà cá nhân, tổ chức hoặc chính phủ một nước vay của nước ngoài

tổng

21,860,000,000 USD

% GDP

45.14%

 
Điện năng (2004)

 

sản lượng

40,110,000,000 kWh

sản lượng bình quân đầu người

470 kWh

tiêu thụ

37,300,000,000 kWh

tiêu thụ bình quân đầu người

437 kWh

 
Dầu mỏ (2005)

1 thùng = 158.987 lít

sản lượng

400,000 thùng/ngày

sản lượng bình quân đầu người

1.71 thùng/năm

tiêu thụ

230,000 thùng/ngày

trữ lượng

2,500,000,000 thùng

 
Khí đốt (2005)

 

sản lượng

6,342,000,000 m³

tiêu thụ

6,342,000,000 m³

trữ lượng

192,600,000,000 m³

 
Xuất khẩu (2006)

 

Giá trị

39,920,000,000 USD

mặt hàng

Than đá, dầu thô, gạo, hải sản, cà phê, cao su, chè, hàng may mặc, giày dép, gốm sứ, hàng thủ công mĩ nghệ…

đối tác

Hoa Kỳ 20.7%, Nhật 12%, Úc 9.2%, Trung Quốc 5.6%, Đức 4.4%

 
Nhập khẩu (2006)

 

Giá trị

39,160,000,000 USD

mặt hàng

Sản phẩm dầu mỏ, sản phẩm thép, máy móc và thiết bị, hóa chất, dược phẩm

đối tác

Trung Quốc 17.2%, Singapore 12.6%, Đài Loan 11.2%, Nhật 9.5%, Nam Triều 9.3%, Thái Lan 7.1%, Malaysia 4%

 
Tiền tệ

 

Đơn vị

đồng (VND)

tỉ giá hối đoái (so với 1USD)

15,983 (2006), 15,746 (2005), (2004), 15,510 (2003), 15,280 (2002)

 
Điện thoại cố định (2005)

 

số lượng

15,845,000

bình quân

5.38 người/1 ĐTCĐ

 
Điện thoại di động (2006)

 

số lượng

15,505,000

bình quân

5.50 người/ 1 ĐTDĐ

 
Tên miền cấp 2 Internet

.vn

 
Số người sử dụng Internet (2006)

 

số lượng

14,684,000 người

tỉ lệ sử dung Internet

17.22%

 
Sân bay (2006)

32

 
Đường sắt

2,600 km

 
Đường bộ

 

tổng

222,179 km

rải nhựa

42,167 km

không rải nhựa

180,012 km

 
Đường thủy

17,702 km

 
Cảng lớn

Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh

 
 
Lịch sử
 

Dựa vào các tài liệu và những thành tựu nghiên cứu khảo cổ về thời đại Hùng vương hiện nay, có thể nói rằng Nhà nước đầu tiên của Việt nam là nước Văn lang ra đời vào khoảng thế kỉ VII-VI tr. C.N.). Thủ lĩnh Văn lang đứng ra thống nhất các bộ lạc Lạc Việt, xưng vua, sử gọi là Hùng vương, với một tổ chức chính trị xã hội đã phát triển và nền văn hóa tương đối cao gọi là văn hóa Đông sơn. Vào nửa sau thế kỉ III tr. C.N., Thục Phán, thủ lĩnh người Âu Việt ở miền núi đem quân tiến đánh kinh đô Văn lang dựng nên nước Âu Lạc, xưng là An Dương vương và dời đô xuống miền Cổ loa.

Năm 179 tr. C.N., Triệu Đà chiếm được nước Âu Lạc, sát nhập Âu Lạc vào nước Nam Việt và chia Âu Lạc thành hai quận Giao chỉ và Cửu chân. Năm 111 tr. C.N., nhà Hán đánh chiếm Nam Việt, Âu Lạc chuyển sang tay nhà Hán, mở đầu thời kì lịch sử gọi là thời kỳ Bắc thuộc kéo dài 11 thế kỉ. Trong thời kì này, dân tộc Việt nam đã liên tục đấu tranh giành độc lập với các cuộc khởi nghĩa: Hai Bà Trưng (40-43), Bà Triệu (248), Lí Bí với Nhà nước Vạn xuân (542-603), Mai Thúc Loan (722). Chiến thắng Bạch đằng của Ngô Quyền (938) được xem là mốc đánh dấu kết thúc thời đại Bắc thuộc, mở đầu thời kì độc lập của dân tộc. Các triều đại non trẻ Ngô (939-965), Đinh (986-980) và Tiền Lê (980- 1009) trong thế kỉ X đã góp phần vào việc xây dựng và củng cố một Nhà nước thống nhất và độc lập. Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV, dưới hai triều Lí (1009-1225) và triều Trần (1226-1400), Việt nam đã trở thành một quốc gia hùng mạnh. Sau 2 cuộc kháng chiến gian khổ chống quân Tống (1075-1079) đời Lí và chống quân Nguyên-Mông (1258, 1285, 1288) đời Trần, nước Đại Việt (quốc hiệu do Lí Thánh tông đặt năm 1054) đã hoàn toàn trưởng thành. Nông nghiệp phát triển, nhiều làng thủ công nghiệp chuyên làm gốm, đúc đồng, luyện sắt đã xuất hiện. Tàu buôn từ Trung quốc và các nước Đông Nam Á đến buôn bán ở các cảng Hội thống (ở cửa sông Cả, tỉnh Hà tĩnh) và Vân đồn (hòn đảo ở tỉnh Quảng ninh). Văn hóa, giáo dục, học thuật đã phát triển đến mức cao.

Triều Hồ (1400-1407) tuy có nhiều cải cách để vươn lên, nhưng thực lực non yếu, để đất nước rơi vào tay quân xâm lược Minh.

Sau 10 năm chiến tranh giải phóng, Lê Lợi đã quét sạch quân Minh, xây dựng một triều đại ổn định là triều Lê (1428-1788), phồn vinh trong thế kỉ XV (1428-1527). Tiếp theo sự chiếm ngôi và cát cứ của nhà Mạc (1527-1592), nước Đại Việt lại trải qua giải đoạn phân tranh giữa hai họ Trịnh-Nguyễn (1627-1772); trong khi các chúa Trịnh tìm cách lấn quyền vua Lê ở Đàng Ngoài, thì ở Đàng Trong các chúa Nguyễn tìm cách mở rộng bờ cõi đến tận biên giới sông Mékong. Từ cuối thế kỉ XVI, thương gia và các giáo sĩ phương Tây như Bồ đào nha, Tây ban nha, Hà lan bắt đầu đến nước ta buôn bán và truyền đạo Thiên chúa, ở Đàng Trong cũng như ở Đàng Ngoài.

Cuối thế kỉ XVIII, ba anh em triều Tây Sơn (1788-1802) nổi lên đánh Nguyễn, diệt Trịnh. Năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, đại phá quân Thanh, có ý đồ chấn hưng đất nước, nhưng không may mất sớm (1792), khiến cho Nguyễn Ánh có cơ hội tiêu diệt Tây sơn, khôi phục cơ nghiệp (1802).

Triều Nguyễn (1802-1945) thống nhất đất nước, đặt quốc hiệu là Việt nam, làm chủ một lãnh thổ rộng lớn chưa từng có.

Trong nửa cuối thế kỉ XIX, kinh tế, văn hóa, học thuật tương đối phát triển, nhưng chính sách bế quan toả cảng và cấm đạo mù quáng đã không ngăn được sự xâm lược của thực dân Pháp. Từ năm 1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông dương, gồm Bắc kì, Trung kì, Nam kì, Cao miên (tức Campuchia) và Lào, nhằm xóa bỏ cái tên Việt nam trên bản đồ thế giới. Sự khai thác thuộc địa đi kèm với chính sách đàn áp và ngu dân.

Sang thế kỉ XX, phong trào chống Pháp do sĩ phu cầm đầu được nhân dân ủng hộ khắp ba miền. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt nam được thành lập, chẳng bao lâu sau lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc và kết thúc bằng thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba đình, Hà nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản "Tuyên ngôn độc lập" và tuyên bố thành lập nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa.

Qua năm 1946, quân đội Pháp trở lại Đông dương. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt nam đứng lên chống Pháp, bảo vệ đất nước ròng rã trong 9 năm và kết thúc với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954). Hiệp định Genève, kí ngày 20-7-1954, công nhận nước Việt nam độc lập, thống nhất: quân Pháp rút khỏi miền Bắc và Việt nam tạm thời chia làm hai miền theo vĩ tuyến 17.

Trong khi miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân miền Nam chống quân đội Mĩ và chính quyền Sài gòn phải kéo dài 20 năm, cuối cùng đạt được thắng lợi là Hiệp định Paris năm 1973 buộc quân Mĩ rút khỏi miền Nam Việt nam. Với cuộc Tổng tấn công mùa xuân năm 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chính quyền Sài gòn hoàn toàn sụp đổ ngày 30-4-1975. Nước Việt nam lại thống nhất, mang tên Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, thủ đô là Hà nội.

Từ năm 1986, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt nam đã thổi một luồng gió mới vào toàn bộ đời sống của đất nước, cuộc đổi mới đã đem lại nhiều thành quả đáng kể.

Đại hội VII năm 1991 quyết tâm tiếp tục công cuộc đổi mới, mở cửa, Việt nam dần dần hòa nhập vào quỹ đạo phát triển của khu vực và thế giới. Ngày 3-2-1994, Tổng thống Hoa kì Bill Clinton tuyên bố huỷ bỏ lệnh cấm vận đã được áp đặt đối với Việt nam trong 18 năm qua (1977-1994). Ngày 11-7-1995, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ giữa Hoa kì và Việt nam. Ngày 28-7-1995, Việt nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và cũng trong tháng 7 năm 1995, Việt nam đã kí Hiệp định Thương mại với Liên minh châu Âu (EU).

Địa vị vững vàng của Việt nam ngày càng được khẳng định trên chính trường quốc tế. Ngày 13-7-2000, tại Washington (Hoa kì), Việt nam đã kí Hiệp định Thương mại với Hoa kì.

Trong các ngày 18 và 19 tháng 11 năm 2000, Tổng thống Bill Clinton thăm chính thức Việt nam, hai bên đã kí Hiệp định Khoa học - kĩ thuật giữa Việt nam và Hoa kì. Trong các ngày 28-2 đến 2-3 năm 2001, Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin thăm chính thức Việt nam, hai bên đã kí Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt nam và Liên bang Nga.

Ngày 26-10-2001, Việt nam được bầu vào Hội đồng chấp hành Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) trong kì họp thứ 31 Đại hội đồng Liên hiệp quốc.

 
 
Chính trị
 

Chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Hiến pháp Ngày 9-11-1946, Quốc hội thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, Hiến pháp được sửa đổi vào các năm 1959, 1980, 1992. Tháng 11-2001, Hiến pháp 1992 sửa đổi đã được thông qua tại kì họp Quốc hội khóa X.

Khu vực hành chính 61 tỉnh và 3 thành phố trực thuộc trung ương

Cơ quan hành pháp Đứng đầu Nhà nước Chủ tịch nước. Đứng đầu Chính phủ Thủ tướng. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu từ các đại biểu Quốc hội, nhiệm kì 5 năm; Thủ tướng do Chủ tịch nước đề cử trong số các đại biểu Quốc hội và do Quốc hội thông qua.

Cơ quan lập pháp Theo Hiến pháp 1992, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, gồm 450 đại biểu, được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm. Ngoài việc bầu Chủ tịch nước và một số các vị lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước, Quốc hội còn có những nhiệm vụ xem xét và ban hành các văn bản pháp lí cũng như giám sát các hoạt động của chính phủ.

Cơ quan tư pháp Tòa án nhân dân Tối cao, Chánh án do Quốc hội bầu dựa trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch nước, nhiệm kì 5 năm; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng do Quốc hội bầu dựa trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch nước, nhiệm kì 5 năm.

Chế độ bầu cử Từ 18 tuổi trở lên, phổ thông đầu phiếu.

Tham gia các tổ chức quốc tế ACCT (quan sát viên), APEC, APT, ARF, AsDB, ASEAN, CP, EAS, FAO, G-77, IAEA, IBRD, ICAO, ICRM, IDA, IFAD, IFC, IFRCS, ILO, IMF, IMO, IMSO, Interpol, IOC, IOM (quan sát viên), IPU, ISO, ITSO, ITU, MIGA, NAM, OIF, OPCW, UN, UNCTAD, UNESCO, UNIDO, UNWTO, UPU, WCL, WCO, WFTU, WHO, WIPO, WMO, WTO

 
(Nguồn :
- "Sổ tay các nước trên thế giới"
Tác giả : TS ngữ văn Nguyễn Văn Dương
- "http://unstats.un.org"
- "The World Factbook"
- "http://wikipedia.org")
Bản thử nghiệm